Công cụ làm việc cá nhân


    Thông tin cơ bản

    • Send this page to somebody
    • Print this page

    ĐẤT NƯỚC

    Trên Đại Tây Dương, lối vào vịnh Mexico nổi lên một loạt quần đảo trong đó có quần đảo Antillas lớn gồm các nước, Cuba, Jamaica, Cộng hoà Dominicana, Haiti, Puerto Rico, quần đảo Antillas nhỏ có các nước, như Granada, San Vicente, Granadinas, Santa Lucia, Guadalupe và Martinica.

    Cuba là nước lớn nhất trong số các quốc gia thuộc quần đảo Antillas lớn. Có một đảo lớn, các đảo nhỏ còn lại hợp thành bốn nhóm quần đảo chính là:

    - Quần đảo Los Cororados trên biển phía bắc tỉnh Pinar del Rio.

    - Quần đảo Sabana – Camaguey hay còn gọi là  Vườn Thượng uyển (Jardines del Rey), chạy dài từ bãi biển Varadero cho đến địa giới giữa Camaguey và Oriente. Trong nhóm quần đảo này nổi bật là cù lào Romano nổi tiếng với những bầy ngựa hoang giống nhỏ.

    - Quần đảo Hoàng hậu (Reina) nàm trong vịnh Guacayanabo, nơi ngư dân Cuba thường lui tới để đánh cá, bắt đồi mồi, rùa biển và các loại giáp các khác.

    - Quần đảo Canareos ở phía tây thành phố La Habana trong đó có Đảo Thông (nay là đảo Thanh Niên) nổi tiếng với cù lao Dài (Largo) với bãi tắm cát đen bằng phảng nổi tiếng.

    Cuba có khoảng 1.600 hòn đảo lớn nhỏ. Diện tích khoảng 110.992 km2, bằng khoảng 1/3 diện tích Việt Nam.

    Nhìn vào bản đồ ta thấy đảo Cuba có hình như con cá sấu, nằm dài theo hướng tây – đông (đầu hướng đông và đuôi hướng tây). Từ đuôi San Antonio miền cực tây đến mũi Maisi, điểm cực đông dài 1250 km, chiều ngang chỗ rộng nhất là 210 km và hẹp nhất là 32 km.

    Cuba cách Haiti 77km về phía đông, Jamaica 146 km về phía đông nam, cách Miami, bang Florida của Mỹ 180 km về phía bắc và Cancun của Mexico 210 km về phía tây.

    Ngày 27/10/1492, trong chuyến đi lần thứ nhất, khi phát hiện ra Cuba, nhà thám hiểm Cristobal Colón đã thốt lên trước cảnh đẹp thiên nhiên kỳ thú "đây là mảnh đất đẹp nhất mà người đời nhìn thấy". Lúc đầu ông và những người cùng đi nghĩ rằng đây là đất liền cho tới năm 1509, dưới sự chỉ huy của Sebastián de Acampo thực hiện cuộc thám hiểm lần thứ hai. Với hai chiếc thuyền, họ xuất phát từ mũi Maisi lên đến San Antonio ở bờ bắc rồi lại từ San Antonio về Maisi bằng bờ nam, cuộc thám hiểm kéo dài gần 8 tháng và rút ra kết luận Cuba là một hòn đảo.

    Để tỏ lòng biết ơn những người đã cung cấp phương tiện cho chuyến đi, Cristobal Colón lúc đầu đặt tên cho miền đất mới này là La Juana, tên của hoàng tử Don Juan, con của vua Fernando xứ Aragón và nữ hoàng Isabel. Nhưng chẳng bao lâu hoàng tử Juan qua đời và Cristobal thấy những người thổ dân gọi quê hương của họ là COIBA nên từ đó ông và những người cùng đi cũng gọi đảo này là Cuba. Theo ngôn ngữ của thổ dân thì COIBA có nghĩa là đất nước có nhiều đá và hang động.

    Ba phần tư diện tích Cuba là đồng bằng, đất đai rất phì nhiêu, màu đỏ ba dan. Cả nước có ba dãy núi chính: dãy Guaniguanico, ở miền Tây; dãy Guamuhaya ở miền Trung và Sierra Maestra ở miền Đông. Dãy Sierra Maestra chạy dài từ mũi Cruz đến vịnh Guantánamo dài 250 km, rộng khoảng 30 km và đỉnh Pico Real del Turquino, cao 1974 m so với mặt biển, đây cũng là đỉnh núi cao nhất Cuba. Trong những năm 1957-1959 quân khởi nghĩa Cuba dưới sự chỉ huy của Fidel Castro toàn bộ vùng Sierra Maestra đã trở thành căn cứ cách mạng, nơi đặt đại bản doanh của nghĩa quân chống chế độ độc tài Batista cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn vào ngày 1/1/1959.

    Miền cực tây, giữa Guana và Mariel nổi lên dãy núi Guaniguanico dài khoảng 160 km và cao nhất là ngọn Pan de Guajaibón 728m. Dãy núi này chia thành hai nhánh giữa là thung lũng San Diego de Los Baños có khu Viñales được coi là một cảnh đẹp duy nhất trên biển Caribe và được UNESCO công nhận là vùng bảo vệ sinh thái. Nhánh phía tây gọi là Sierra de los Organos với hình thù như những pháo đài và nhấp nhô như hình thù những con voi. Nhánh phía đông có tên là Sierra del Rosario với những đồi thấp, dốc thoai thoải, các thác nước Soroa cũng là một cảnh đẹp nổi tiếng của vùng.

    Miền trung có dãy Guamuhaya thuộc phía tây tỉnh Sancti Spiritus và Cienfuegos. Sau ngày cách mạng thành công, dãy núi này được đổi tên là Escambray. Vào những năm đầu của thập kỷ 60, lực lượng phản cách mạng được Mỹ huấn luyện và trang bị đã thâm nhập bằng đường biển và hàng không với mục đích chống phá chính quyền nhân dân non trẻ. Bị các lực lượng vũ trang và dân quân cách mạng truy quét, lực lượng này đã dạt lên vùng này và biến thành thổ phỉ khủng bố nhân dân, phá hoại cách mạng. Vài năm sau đó, lực lượng này đã bị tiêu diệt hoàn toàn.

    Đất đai vùng đồng bằng rất màu mỡ. Phần lớn là đất đỏ thích hợp với việc trồng mía và các cây công nghiệp khác như thuốc lá, cà phê. Những bãi cỏ rộng mênh mông thuận tiện cho việc chăn nuôi đại gia súc. Khan hiếm nước ngọt là khó khăn lớn nhất cho việc phát triển nông nghiệp và chăn nuôi. Cả nước chỉ có một diện tích khiêm tốn ruộng nước thích hợp cho việc trồng lúa nước.

    Cuba có khoảng 200 sông và vài trăm con suối nhưng phần lớn là sông nhỏ, lưu lượng ít, mùa khô phần lớn là cạn kiệt. Nhưng sông Cauto, Mayari, Yara và Toa là lớn hơn cả nhưng cũng chưa có sông nào dài quá 250 km. Trừ sông Cauto chảy theo hướng tây-đông còn hầu hết đều chảy theo hướng bắc-nam hay ngược lại tức là chảy ra hai phía bờ biển. Vì vậy khi mưa to dễ gây ra nạn úng lụt cục bộ nhưng khi hết mưa và đặc biệt là về mùa khô thì lại hầu như không có nước vì vậy sông ngòi Cuba không phải là cơ sở vận tài thuỷ.

    Bờ biển dài 5746 km kể cả 327km bao quanh đảo Thanh Niên. Bờ bắc dài 3209 km có nhiều đoạn thấp, đầm lầy, nhiều vịnh nhỏ và vũng như Honda, Cabañas, Mariel. Cửa vào các vịnh đều hẹp, phía trong thì phình ra. Vịnh La Habana và Matanzas là những hải cảng quan trọng của cả nước. Bãi biển Varadero là một bãi tắm đẹp nổi tiếng trên thế giới, một trung tâm du lịch quan trọng nhất của Cuba.

    Bờ biển phía nam dài 2537 km, thấp, phần lớn là đầm lầy, và các bãi tắm nhỏ. Bãi biển Girón đã trở thành địa danh lịch sử là nơi trên một ngàn lính đánh thuê, phần lớn là con cái địa chủ, tư sản, binh lính và nhân viên cảnh sát của thời độc tài Batista được Mỹ huất luyện và trang bị, đã đổ bộ và bị tiêu diệt và bắt sống trong  chưa đầy 72 giờ ngày 19/4/1961.

    Cuba là nước nhiệt đới, gần đường xích đạo lại là hòn đảo dài bao quanh là biển nên có khí hậu đại dương, quanh năm mát mẻ dễ chịu. Nhiệt độ trung bình cả năm là 25oC, tháng nóng nhất là 6,7 và 8; những tháng lạnh nhất là 12, giêng và 2, nhưng hiếm khi nhiệt độ xuống dưới 10oC. Độ ẩm trung bình năm là 78%.

    Tại Cuba chỉ có hai mùa, mùa mưa bắt đàu từ tháng tư đến tháng 11 và mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng tư năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm là 1400 mm, phân bổ đều trên pham vi toàn quốc (trừ khu vực Baracoa). Cũng như các nước khác trong vùng biển Caribe, Cuba thường phải chống chọi với những cơn bão nhiệt đớn xảy ra giữa tháng 7 và tháng 11.

    Ngoài đất đai màu mỡ, Cuba còn có nhiều khoáng sản quý như đồng, vàng, sắt, coban, tungsten, barit, amian, dolomit, kền, cromit, mangan và dầu lửa…Trong những khoáng sản thì có kề có trữ lượng lớn thứ tư trên thế giới sau Canada, Indonesia và Tân Đảo còn các thứ khác có trữ lượng thấp.

    Quần đảo Cuba còn nổi tiếng ở cảnh đẹp thiên nhiên. Đất nước quanh năm ấp áp, nhiều ánh sáng mặt trời nên có một thảm thực vất và nguồn động vật rất phong phú, đa dạng. Tuy không còn những vạt rừng lớn, nguyên sinh nhưng trên toàn đảo có tới trên 8.000 loại thực vật, tiêu biểu như cây vương cọ (Palma Real), thông, trắc, gụ rất nổi tiếng trên thế giới. Vì không có rừng lới nên không có thú dữ. Tuy vậy Cuba vẫn được mệnh danh là thiên đường của các nhà tự nhiên học. Họ có thể đi khắp đất nước mà không sợ bị thú dữ hay các loài có hại tấn công nhưng lại thấy được nhiều loài động vật khác nhau: dưới biển có trên 900 loài cá, trong đó có những loài có giá trị kinh tế cao như cá hồng, cá hồi, cá hương và cá kiếm; trên 200 loài giáp xác trong đó có một loài ốc mà vỏ có màu sắc rất đẹp; có trên 1700 loài sâu bọ, 80 loài bò sát trong đó phải kể đến những loài rất quý như đồi mồi và rùa biển. Loài lưỡng thể có ếch, nhái, cá sấu…đặc biệt có loài biến sắc rất lớn có con dài tới 2 mét; ếch bò nặng tới hàng kg, trên 300 loài chim trong đó có vẹt Tocororo, có bộ lông màu xanh, trắng, đỏ, đúng như màu quốc kỳ nên được coi là quốc điểu. Đó cũng là loài chim biểu tượng cho tự do vì nếu bị bắt, bị nhốt thì chỉ một thời gian rất ngắn chim sẽ chết. Loài chim này thường làm tổ trong các hốc cây hoặc trên ngọn cây cọ.

    PHÂN CHIA ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH

    Từ năm 1878, dưới chế độ thực dân Tây Ban Nha, toàn đảo được chia thành 6 tỉnh và 126 quận, huyện. Sự phân chia này hoàn toàn không hợp lý cả về diện tích, dân số, kinh tế và xã hội. Do đó, ngay sau ngày cách mạng thành công đã có một số bước điều chỉnh đầu tiên: tăng số quận, huyện cả củng cố vai trò của cấp tỉnh đồng thời thành lập một cấp trung gian gọi là "miền" với mục đích cải tiến hệ thống tổ chức và lãnh đạo lãnh thổ về mặt kinh tế và xã hội. Nhưng biện pháp đó đã không mang lại kết quả như mong muốn mà trong quá trình thực hiện đã bộc lộ nhiều nhược điểm như sự xa cách giữa cấp lãnh đạo trung nương và cơ sở, bộ máy hành chính và dịch vụ cồng kềnh, biên chế lớn.

    Năm 1975, Đại hội Đảng Cộng sản Cuba lần thứ Nhất đã phân tích vấn đề này một cách thận trọng, khoa học và đã đưa ra quyết định mới về sự phân chia lãnh thổ trước hết là bỏ cấp "miền", chia lại từ 6 tỉnh thành 14 tỉnh và khu vực hành chính, giảm cấp quận, huyện từ 407 xuống còn 169 bảo gồm cả quận đặc biệt là Đảo Thanh Niên trực thuộc Trung ương.

    Sáu tỉnh cũ (từ tây sang đông): Pinar del Rio, La Habana, Matanzas, Las Villas, Camaguey và Oriente được chuyển thành 14 tỉnh mới: Pinar del Río, La Habana, thành phố La Habana, Matanzas, Cienfuegos, Villa Clara, Santi Spíritus, Ciego de Ávila, Camagüey, Las Tunas, Holguín, Granma, Santiago de Cuba y Guantánamo. Cũng theo sự phân chia này, đảo Thông trở thành quận đặc biệt mang tên đảo Thanh Niên đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương.

     

    MỘT SỐ THÔNG TIN KHÁC

    Ngôn ngữ chính thức

    Tiêng Tây Ban Nha (Español)

    Dân cư

    Được coi là một trong những vùng dân cư đứng hàng đầu thế giới về sự không thuần nhất; người Cuba pha trộn trắng, đen, lai trắng-đen và người Hoa trong một khối cộng sinh hoàn chỉnh. Dân số Cuba hiện nay có trên 11 217 000 người trong đó  75% sinh sống ở các vùng đô thị. Trong tổng số dân có 5 triệu 587 nghìn 970  nam giới; nữ giới  là 5 triệu 592 nghìn 129 người.

    Mật độ dân số là 100,3 người/km2; các tỉnh và Thành phố đông dân nhất là Thủ đô La Habana (2 198 000 người), thành phố Santiago de Cuba (1 023 000 người) và  Holguín (1 021 000 người).

    Quốc kỳ Cuba

    Nhà văn, nhà thơ và hoạ sĩ Miguel Teurbe Colón là người thiết kế lá cờ theo hướng dẫn của nhà yêu nước Narciso López. Lá cờ này được những thành viên trong đội quân viễn chinh giải phóng của  Narciso López kéo lên lần đầu tiên vào năm 1850 tại thành phố Cárdenas. Ngày 11 tháng Tư năm 1869 lá cờ này được Quốc hội lập hiến Guáimaro (cơ quan độc lập) phê chuẩn làm Quốc kỳ. Ngọn cờ này cũng đã từng được giương cao ở hàng đầu trong các cuộc chiến đấu của các chiến sĩ mambi yêu nước trong cuộc chiến tranh giành độc lập diễn ra trong những năm 1895-1898. Ba giải mầu xanh tượng trưng cho ba tỉnh được chia theo khu vực hành chính khi đó, hai giải trắng tượng trưng sức mạnh lý tưởng độc lập; hình tam giác đỏ tượng trưng cho Bình đẳng - Bác ái - Tự do đồng thời tiêu biểu cho dòng máu đổ xuống của các chiến sỹ trong các cuộc đấu tranh giành độc lập. Ngôi sao trắng tượng trưng cho quyền tự do tuyệt đối giữa các dân tộc.

    Quốc huy

    Khởi đầu được Miguel Teurbe Colón, người đã từng thiết kế Quốc kỳ Cuba nói trên, vẽ vào năm 1849 về sau có một vài thay đổi nhưng vẫn giữ được ý nghĩa cơ bản của tác giả. Ở phần nằm ngang phía trên hiển hiện một chìa khoá vàng giữa hai ngọn núi và mặt trời đang lên (tiêu biểu cho vị trí Cuba trong Vịnh Mexico nằm giữa Bắc Mỹ và Mỹ La tinh). Các giải trắng và xanh da trời - cũng như Quốc kỳ - tương trưng cho sự phân chia hành chính khi đó. Bên trái,  theo đường thẳng  đứng là phong cảnh Cuba mà chủ đạo là cây vương cọ, nét tiêu biểu cho tinh thần bất khuất của nhân dân Cuba.

    Quốc ca

    Quốc ca Cuba ra đời tại thành phố Bayamo, giữa lúc tiếng súng của cuộc đấu tranh giành độc lập  đang vang rền. Pedro Figueredo, sau khi sáng tác giai điệu vào năm 1867, đã viết lời với ý nghĩa độc lập vĩ đại của bài hát vào lúc quân khởi nghĩa chiếm được thành phố vào năm 1868.

     

    Tạo bởi songhong
    Cập nhật 09-12-2008