Personal tools


    NHÂN KỶ NIỆM 50 NĂM QUỐC KHÁNH CUBA (1-1-1959 - 1-1-2009): CUBA PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN, BỀN VỮNG

    • Send this page to somebody
    • Print this page

                                                                                                    Th.s Ngô Chí Nguyện
                                                                                 Học viện CTHCQG Hồ Chí Minh

    Nửa thế kỷ đương đầu với những biến cố dữ dội trong nền chính trị thế giới, hơn 40 năm trước sự bao vây cấm vận của chính quyền Mỹ, sóng to gió cả của thiên tai, địch hoạ, Cuba vẫn can trường trụ vững và ngày càng cứng cỏi, trưởng thành tựa như cây phong ba sừng sững giữa biển khơi Caribe đầy bão táp. Điều gì đã làm nên sức mạnh để một dân tộc nhỏ bé có thể chiến đấu và chiến thắng trước muôn vàn gian khó hiểm nguy tưởng chừng không thể vượt qua, hiên ngang đi lên trong sự ngỡ ngàng của kẻ thù và niềm cảm phục của bè bạn tiến bộ khắp năm châu? Nhìn lại chặng đường 50 năm đầy gian lao nhưng rất đỗi vinh quang của cách mạng Cuba, nhân tố cội nguồn tạo nên những điều kỳ diệu ấy chính là sức mạnh đoàn kết của một dân tộc khát khao công lý, tự do, bình đẳng, chính nghĩa và tiến bộ dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Cuba. Điều đó hun đúc ý chí và bản lĩnh sẵn sàng đương đầu và đạp bằng mọi trở ngại để bảo vệ và thực hiện lý tưởng và giá trị cao đẹp mà cuộc cách mạng XHCN thành công năm 1959 đã mang lại cho 11 triệu dân trên hòn đảo anh hùng.

    Những thành quả và giá trị ưu việt mà cuộc cách mạng mang lại cho nhân dân Cuba được thể hiện rõ rệt nhất trong những chính sách xã hội mà mỗi người dân Cuba đã và đang được thụ hưởng. Mặc dù còn là một nước nghèo và mức sống của nhân dân chưa cao nhưng người dân Cuba đã và đang được hưởng chế độ phúc lợi xã hội, sự công bằng và ổn định mà không một nước thuộc thế giới thứ ba nào sánh được, thậm chí Cuba đã vượt cả một số nước tư bản phát triển trên nhiều chỉ số phát triển con người. Từ một xã hội nghèo nàn, lạc hậu, Cuba đã trở thành tấm gương sáng về phát triển kinh tế - xã hội hài hòa, phát triển con người ở Mỹ Latinh và trên thế giới. Những thành quả và giá trị ấy bắt nguồn từ bản chất, mục tiêu của cuộc cách mạng XHCN, đó là cuộc cách mạng mang tính nhân văn, nhân bản sâu sắc, một cuộc cách mạng do con người và tất cả vì con người. CNXH ở Cuba đã đặt con người ở vị trí trung tâm của mọi chính sách và mục tiêu phát triển, coi con người vừa là chủ thể, động lực vừa là mục tiêu cao nhất của cách mạng. Cách mạng và chế độ mới đã gắn kết quá trình giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người thành một thể thống nhất, lấy việc bảo vệ và vun đắp những quyền thiêng liêng cơ bản và phẩm giá con người là nhiệm vụ cao cả, từ đó tạo ra các tiền đề cho sự phát triển toàn diện và bình đẳng giữa các cá nhân và toàn thể nhân dân lao động trong xã hội, kiến lập một xã hội công bằng, văn minh, một lối sống nhân đạo lấy việc phục vụ con người, trước hết là nhân dân lao động là mục tiêu tối thượng. Thế giới hiện đại ngày nay đang tồn tại phổ biến nghịch cảnh kinh tế càng tăng trưởng càng làm trầm trọng thêm những bất công và phân hoá xã hội. Trong bối cảnh ấy Cuba đạt được tăng trưởng trong công bằng, giải quyết đồng thời và hoà quyện những vấn đề kinh tế với những vấn đề xã hội, ổn định chính trị, giữ vững an ninh, quốc phòng, tạo ra mô hình phát triển toàn diện, bền vững. Ở Cuba, mọi thành tựu của tăng trưởng kinh tế đều được sử dụng một cách hợp lý và công bằng vào việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho toàn thể nhân dân.

    Trong suốt 50 năm phát triển trong vòng cương toả ngặt nghèo của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, ngay cả trong những tháng năm vô cùng khó khăn của thời kỳ đặc biệt sau sụp đổ hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, Đảng và Nhà nước Cuba vẫn vừa tập trung sức phát triển kinh tế, vừa thiết lập và duy trì thành công hệ thống bảo đảm an sinh xã hội phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chủ yếu như giáo dục, y tế, thể thao, văn hoá nghệ thuật, vui chơi giải trí, trợ cấp xã hội, trong đó giáo dục và y tế là hai lĩnh vực nổi bật tạo nên đặc trưng ưu việt của chính sách xã hội ở Cuba. Ở Cuba, tất cả các chương trình chăm sóc sức khoẻ và giáo dục đào tạo hoàn toàn miễn phí cho mọi người dân. Theo đó, mọi người dân sinh ra ở Cuba cho dù thu nhập là bao nhiêu và thuộc màu da nào đều nhận được các dịch vụ chăm sóc y tế chất lượng cao bảo đảm từ lúc sinh ra cho đến cuối cuộc đời. Chính sách tương tự cũng áp dụng cho giáo dục, kể từ lúc đi nhà trẻ cho tới khi tốt nghiệp bậc tiến sĩ và hoàn toàn miễn phí. Tổng ngân sách dành cho lĩnh vực xã hội chiếm 59% GDP và riêng hai lĩnh vực chăm sóc con người cơ bản là giáo dục và y tế đã chiếm tới 30% GDP, cao gấp ba lần so với mức trung bình của các nước trong khu vực.

    Về giáo dục, Hiến pháp Cuba ghi rõ: “Tất cả mọi người đều được phép tiếp cận như nhau với giáo dục ở tất cả các trường học của đất nước (từ tiểu học đến đại học) và giáo dục không mất tiền”. Với chính sách đó, nếu như trước ngày cách mạng thành công ở Cuba có tới 30% người dân 12 tuổi trở lên không biết chữ, 90% dân số mù chữ, chỉ có 45% số trẻ em trong độ tuổi được đi học cấp I và 8% học cấp II thì đến năm 1979 tỷ lệ biết chữ đã lên đến 90% dân số và đến nay chỉ còn 0,2% dân số Cuba mù chữ (so với 13% của toàn khu vực Mỹ Latinh). Với 100% số trẻ em Cuba trong độ tuổi đi học được tới trường, phổ cập tiểu học đạt 100% dân số, phổ cập cấp II 98,8% dân số, Cuba đã đạt trình độ trung bình lớp 9 cho toàn dân. Ngay cả đối với trẻ em bị tàn tật, Cuba có 426 trường đặc biệt dành cho gần 60 nghìn học sinh, trong đó hàng nghìn trẻ em khuyết tật nặng được tổ chức học tập ngay tại giường bệnh. Cuba hiện đứng đầu Mỹ Latinh về số lượng học sinh đi học với gần 3 triệu người trên tổng số 11 triệu dân đang đi học các cấp. Từ chỗ cả nước có 3 trường đại học trước năm 1959 đến nay Cu ba đã có trên 50 trường đại học, trong đó có 15 trường đại học sư phạm. Cuba có tới 10.000 sinh viên theo học tại các trường khoa học kỹ thuật, 133 trung tâm nghiên cứu khoa học với lực lượng cán bộ khoa học có trình độ cao lên tới hàng chục ngàn người. Cuba có hơn 700.000 người đã tốt nghiệp đại học, bình quân cứ 100 người có 7 người tốt nghiệp đại học trở lên và 13 người có trình độ trung cấp kỹ thuật. Đội ngũ giáo viên các cấp của Cuba lên tới 250.000 giáo viên chuyên môn và 34.000 giáo viên giáo dục thể chất, trung bình một giáo viên trên 20 học sinh. Về chất lượng giáo dục, các cơ quan chuyên môn của Mỹ Latinh và UNESCO đều xếp học sinh Cuba vào vị trí đứng đầu khu vực về trình độ văn hoá tổng hợp. Những con số đó đã đưa Cuba vươn lên hàng đầu thế giới về trình độ dân trí và tỷ lệ giáo viên trên dân số.

    Từ năm học 2002-2003 đến nay Cuba phát động một cuộc cách mạng trong giáo dục với những nội dung quan trọng là đưa giáo dục đại học đến toàn bộ 169 quận, huyện của cả nước với 732 trung tâm, với mục tiêu tất cả học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học có nguyện vọng đều có thể được học đại học, hướng tới phổ cập giáo dục ở cấp đại học cho toàn dân; tổ chức lại các lớp học sao cho mỗi lớp học cấp I không quá 20 học sinh, mỗi lớp học cấp II không quá 15 học sinh và ở cấp đại học cũng không quá 15 sinh viên một lớp; tăng cường trang bị vật chất và hiện đại hoá thiết bị dạy học cho nhà trường, đảm bảo ngày học hai buổi, 100% phòng học trong cả nước có điện, mỗi phòng học có một ti vi, cứ 100 học sinh có một đầu video, một máy ghi âm và tiến tới trang bị phổ cập máy vi tính cho các phòng học. Cuba đã hình thành một xã hội học tập và coi học tập vừa như là quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi người dân và là yếu tố đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước trong tương lai, phù hợp với xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức trên thế giới.

    Trong lĩnh vực y tế, Chính phủ Cuba luôn coi công tác y tế là một trọng điểm của chính sách xã hội. Trong chính sách y tế Cuba thực hiện các nguyên tắc miễn phí, phổ biến, dễ dàng, được trang bị với những điều kiện kỹ thuật - vật chất cần thiết với đội ngũ y bác sĩ được đánh giá cao và dựa trên cơ sở phòng bệnh là chủ yếu. Tất cả mọi người dân Cuba đều được tiếp cận một cách bình đẳng các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ chất lượng cao và hoàn toàn miễn phí ở mọi lúc, mọi nơi. Ngân sách dành cho lĩnh vực y tế luôn chiếm tới 17 - 18% GDP. Nếu trước cách mạng ở Cuba không có y tế nông thôn, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh là trên 60/1.000 trẻ ra đời, tuổi thọ của người dân là 58 thì đến nay mạng lưới các cơ sở y tế đã phủ khắp mọi vùng miền trên cả nước với 436 bệnh viện đa khoa, 275 bệnh viện chuyên khoa, 13 viện y học chuyên ngành… Cả nước có 22 cơ sở đào tạo y khoa và đã đào tạo được gần 100.000 bác sĩ so với 3.000 bác sĩ được đào tạo trước năm 1959. Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh ở Cuba hạ xuống còn 5,3/1.000 trẻ (so với 35/1000 của khu vực Mỹ Latinh và 7/1.000 của Mỹ). Tỷ lệ trẻ em chết yểu giảm hơn 90% trong 50 năm qua. Tuổi thọ trung bình của người dân là 78 tuổi, tăng thêm 20 tuổi so với trước cách mạng và ngang với tuổi thọ trung bình của các nước tư bản phát triển nhất. Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS là 0,03% (tỷ lệ thấp nhất khu vực) so với 0,6% ở Mỹ. Tất cả trẻ em đếu được tiêm phòng chống lại 13 căn bệnh cơ bản. Với số lượng bác sĩ là gần 70.000 người, trung bình trên 100.000 dân có 590 bác sĩ so với mức bình quân của Mỹ Latinh là 160 bác sĩ, bình quân 175 người có một bác sĩ. Tỷ lệ này đã đưa Cuba vươn lên đứng đầu thế giới về tỷ lệ bác sĩ trên đầu người. Cuba không chỉ chú trọng đào tạo, bồi dưỡng các bác sĩ và nhân viên y tế từ cấp trên tới cấp cơ sở mà còn chú ý đầu tư nghiên cứu, chế tạo các trang thiết bị y tế, các sản phẩm dược và những công nghệ mới hiện đại trong lĩnh vực y tế. Hiện nay Cuba đã tự chế tạo được 90% dược phẩm sử dụng trong nước, trong đó có một số dược phẩm đạt chất lượng rất cao và được thế giới ghi nhận.

    Không chỉ chăm lo sức khoẻ cho nhân dân trong nước, Cuba hiện đang nuôi dưỡng và đào tạo 1,3 vạn lưu học sinh đến từ 83 quốc gia đang học tập, nghiên cứu các chuyên ngành y tại các trường đại học và học viện y tế ở Cuba. Cuba có hơn 30.000 bác sĩ và thày thuốc đang làm việc tại hơn 68 nước trên thế giới theo chương trình hợp tác, giúp đỡ tự nguyện y tế cho các nước này.

    Chính sách xã hội như giải quyết việc làm, vấn đề nhà ở, thể thao, văn hoá, vui chơi giải trí, dịch vụ công cộng và những sinh hoạt thiết yếu của người dân, vấn đề chăm sóc người tàn tật, cô đơn, người già, phòng chống tệ nạn xã hội trong thanh thiếu niên và giáo dục phạm nhân… được Đảng và Nhà nước Cuba quan tâm và đầu tư thích đáng. Thành tích của thể thao Cuba luôn đứng đầu thế giới thứ ba và nếu tính theo đầu người thì Cuba đạt nhiều huy chương nhất ở các kỳ thế vận hội. Đến nay 95% người dân Cuba được sử dụng điện, 95,3% dân số Cuba được dùng nước sạch, hơn 85% số hộ gia đình trong toàn quốc có sở hữu nhà hợp pháp. Tốc độ xây dựng nhà ở cho nhân dân tăng nhanh trong những năm qua, riêng năm 2006 đạt hơn 110 nghìn ngôi nhà, tăng gấp ba lần so với năm 2005. Trong công tác xoá đói giảm nghèo, Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) đã đánh giá Cuba là một trong số ít nước trên thế giới thực hiện nghiêm túc công tác này ở tất cả các cấp, các vùng miền, từ thành thị tới nông thôn. Đảng và Nhà nước Cuba đã đề ra và thực thi hàng loạt những chính sách tiến bộ nhằm thủ tiêu tận gốc rễ mọi sự phân biệt và bất bình đẳng về giới tính, chủng tộc, tôn giáo tín ngưỡng, màu da và địa vị xã hội, đảm bảo cho mọi người dân Cuba đều có thể tham gia tích cực và toàn diện vào đời sống của đất nước. Cách mạng đã mở rộng cánh cửa bình đẳng cho phụ nữ trong học tập và lao động. Nếu trước năm 1959, chưa đầy 12% phụ nữ Cuba tham gia vào lực lượng sản xuất thì hiện nay 42% lực lượng lao động là phụ nữ. Phụ nữ Cuba ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, chiếm tới 66% tổng số chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế quốc gia, 30% tổng số cán bộ nghiên cứu khoa học, 60% tổng số sinh viên các trường đại học và cao đẳng. Là đất nước đa chủng tộc nhưng Cuba là nơi duy nhất không có sự phân biệt, kỳ thị màu da cả trong chính sách cũng như trong cuộc sống thực tiễn. Mọi người dân sống trong bầu không khí bình đẳng, yêu thương nhau. Ở Cuba quyền được lao động, đời sống và điều kiện làm việc của người lao động trở thành những giá trị thiêng liêng có tính nguyên tắc và được chính phủ rất quan tâm. Vì vậy, tỷ lệ thất nghiệp ở Cuba hiện nay là 1,9%, một tỷ lệ vào hàng thấp nhất thế giới. Những người lao động bị mất việc làm do tái cơ cấu kinh tế vẫn được nhận lương, đồng thời được giới thiệu chỗ làm việc mới do Nhà nước tạo ra, hoặc được đào tạo lại nghề nghiệp. Tiền thuê nhà, giá các dịch vụ xã hội được giữ ở mức thấp. Nhà nước bảo đảm trả lương cho người về hưu, lương thực thực phẩm thiết yếu được phân phối theo giá bao cấp. Cũng liên quan đến quyền lợi của người lao động, đến nay Cuba đã ký kết 87 trong tổng số 184 công ước do Tổ chức Lao động quốc tế ban hành. Đó là các công ước liên quan đến quyền tự do công đoàn, chống phân biệt việc làm, chống phân biệt lương giữa lao động nam và nữ, cấm lao động cưỡng bức, liên quan đến quản lý lao động, chính sách lao động, vệ sinh an toàn lao động, chính sách bảo hiểm cho người lao động… Đời sống của người già độc thân, trẻ em khuyết tật, của những người có hoàn cảnh đặc biệt… được chính phủ quan tâm thông qua hoạt động của hơn 42.000 cán bộ công tác xã hội, đảm bảo cho không một người Cuba nào bị bỏ rơi. Ở Cuba không một đứa trẻ nào phải ăn xin trên hè phố hoặc phải làm lụng để kiếm sống, cũng hầu như chưa có tệ nạn ma tuý đầu độc và huỷ hoại giới trẻ nước này. Cuba cũng đứng đầu danh sách các nước đảm bảo tốt an ninh quốc gia và an ninh cho người dân. Tuy đời sống còn nhiều khó khăn nhưng tỷ lệ tội phạm ở Cuba thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình của toàn châu Mỹ, bạo lực rất ít xảy ra.

    Với tất cả những thành tựu đáng tự hào nói trên không có nghĩa là việc đề ra và thực thi chính sách xã hội ở Cuba không có những hạn chế, khiếm khuyết và bất cập. Tuy nhiên, là một quốc gia đang phát triển, lại là nạn nhân của những chính sách bao vây cấm vận ngặt nghèo của Mỹ, việc Cuba đạt được những thành tựu như vậy là một điều kỳ diệu. Chính những chính sách ưu việt mà cách mạng đã và đang mang lại cho người dân đã khiến họ tin, theo Đảng, tự giác, quyết tâm bảo vệ những lợi ích thiết thân to lớn của mình bằng cách bảo vệ sự nghiệp cách mạng. Giờ đây, đối với mỗi người dân Cuba, Đảng, cách mạng, Tổ quốc và CNXH đã hoà làm một và trở thành niềm tin, lẽ sống thiêng liêng khó có thể đảo ngược. Đó chính là chỗ dựa và là cơ sở vững chắc nhất để cách mạng Cuba vượt qua mọi thách thức nghiệt ngã, tiếp tục đứng vững và đi lên trong mọi hoàn cảnh./.

    Created by trungmy
    Last modified 05-01-2009