Công cụ làm việc cá nhân


    THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CU-BA VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM

    • Send this page to somebody
    • Print this page

    I. KHÁI QUÁT:

    - Tên chính thức: Cộng hoà Cu-ba.
    - Vị trí địa lý: Cu-ba là một quần đảo (gồm hơn 1.600 đảo, lớn nhất là đảo Cu-ba với diện tích 110.922 km2 và đảo Thanh Niên là 3.061 km2), nằm ở vùng biển Ca-ri-bê, án ngữ lối vào vịnh Mê-hi-cô, giữa Bắc, Trung và Nam Mỹ; 3/4 diện tích là đồng bằng; sông ngòi ít, nhỏ.
    - Diện tích : 114.524 km2
    - Dân số : 11,5 triệu người (2006);  hơn 70% da trắng gốc Âu (chủ yếu Tây Ban Nha), 14% người lai, 12% gốc Phi (da đen), còn lại là người gốc Á (gốc Hoa).
    - Thủ đô:  La Ha-ba-na (2,1 triệu người).
    - Tiền tệ:  đồng Pê-xô (gồm đồng pê-xô nội địa và đồng pê-xô tự do chuyển đổi. Từ tháng 10/2004, Chính phủ Cu-ba quyết định huỷ bỏ việc sử dụng đồng đôla Mỹ ở Cu-ba). 
    - Ngôn ngữ chính thức : tiếng Tây Ban Nha.
    - Ngày lễ lớn : + 1/1/1959: Ngày Giải phóng (Quốc khánh)
                           + 26/7/1953: Ngày Khởi nghĩa Vũ trang
     - Chủ tịch HĐNN và HĐBT : Phi-đen Ca-xtơ-rô Ru-xơ (Fidel Castro Ruz)
     - Chủ tịch Quốc hội : Ri-các-đô A-la-rơ-côn đê Kê-xa-đa (Ricardo Alarcón de Quesada)
     - Bộ trưởng Ngoại giao : Phê-líp-pê Pê-rết Rô-kê (Felipe Perez Roque)

    II.  LỊCH SỬ:
             
    - Nhà thám hiểm Tây Ban Nha Cri-xtô-phơ Cô-lôn phát hiện Cu-ba ngày 27/10/1492.
    - 1511-1898: là thuộc địa của Tây Ban Nha. Trong thời kỳ này, nhiều cuộc khởi nghĩa chống Tây Ban Nha đã nổ ra, trong đó tiêu biểu có: cuộc khởi nghĩa của thổ dân Cu-ba do Tù trưởng Ha-tuây lãnh đạo; cuộc khởi nghĩa giành Độc lập lần thứ nhất (1868-1878) do đại điền chủ cấp tiến Các-lốt M. Đề Xê-xpê-đết lãnh đạo; cuộc khởi nghĩa giành Độc lập lần thứ 2 (1895-1898) do Hô-xê Mac-ti, Ma-xi-mô Gô-mết và An-tô-ni-ô Ma-xê-ô lãnh đạo.
    - 1898 - 1958 là thuộc địa kiểu mới của Mỹ: Mỹ 2 lần chiếm đóng quân sự Cu-ba (1898-1902 và 1906-1909). 
    -  Tháng 8/1925: thành lập Đảng Cộng sản đầu tiên ở Cu-ba.
    - 26/7/1953, Phi-đen lãnh đạo Phong trào 26 tháng 7 tiến hành khởi nghĩa vũ trang tiến công trại lính Môn-ca-đa, mở đầu cuộc đấu tranh vũ trang lật đổ chế độ độc tài tay sai của Mỹ.
    - 2/12/1956, tàu Gran-ma chở Phi-đen và các chiến sĩ cách mạng Cu-ba đổ bộ vào Cu-ba, mở đầu cuộc kháng chiến chống chế độ độc tài Ba-ti-xta.
    - 1/1/1959: Cách mạng Cu-ba thành công.
    - 16/4/1961: Fidel Castro tuyên bố tính chất XHCN của cách mạng Cu-ba.
    - 3/10/1965:  Thành lập Đảng Cộng sản Cu-ba trên cơ sở hợp nhất các đảng công nhân cánh tả, cách mạng  và Phong trào 26/7 dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Fidel Castro.

    III. KINH TẾ:
     
    - Cu-ba có khí hậu nhiệt đới ôn hoà; nhiều khoáng sản như ni-kên (nikel-sản lượng đứng thứ 4 thế giới), đồng, sắt, măng-gan, dầu lửa…; đất đai mầu mỡ, thích hợp cho canh tác cây công nghiệp (mía, cà phê, thuốc lá, cây ăn quả…) và chăn nuôi đại gia súc; có nhiều vùng sinh thái và phong cảnh thiên nhiên đa dạng thích hợp cho việc phát triển mọi loại hình du lịch. 

    - Bước vào thập kỷ 90, Cu-ba lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng nhất kể từ ngày Cách mạng thành công. Năm 1990, kinh tế tăng trưởng âm (-) 2,6%; năm 1993, GDP giảm đến 35% so với năm 1989 (trước khủng hoảng). Nợ nước ngoài khoảng 11 tỷ đôla (cuối 1998), chưa kể số nợ 21,5 tỷ rúp chuyển đổi của Nga. Để khắc phục khó khăn, từ năm 1993, Cu-ba đã áp dụng một số biện pháp như: hợp pháp hóa quyền sở hữu và sử dụng ngoại tệ trong dân; ban hành Luật đầu tư nước ngoài mới (5/9/1995); cho phép tư nhân hoạt động trong một số ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nông sản và dịch vụ; cải cách cơ cấu trong nông nghiệp theo hướng phi tập trung hoá và đa dạng hoá sản phẩm (thu hẹp ngành mía đường và phát triển các ngành nghề khác); cho phép các công ty lớn của nhà nước được tự cân đối ngoại tệ - ngoại thương trực tiếp... Từ cuối năm 2004, để tập trung quản lý ngoại tệ và đáp lại chính sách xiết chặt bao vây - cấm vận của Mỹ, Cu-ba đình chỉ việc sử dụng đồng đôla Mỹ và thống nhất ban hành đồng pê-xô chuyển đổi trên thị trường nội địa.

    - Kể từ năm 1995, kinh tế Cu-ba đã từng bước phục hồi và thoát ra khỏi thời điểm khó khăn nhất. Những năm gần đây, kinh tế Cu-ba tiếp tục giữ đà tăng trưởng liên tục ở mức cao (2004 tăng 5%, 2005: 11,8%, 2006: 12%). Quan hệ thương mại của Cu-ba khá cân bằng với các châu lục: Châu Mỹ, 45%; Châu Âu: 31%, Châu Á và Trung Đông: 21%; các bạn hàng chính (2006): Venezuela (2,5 tỷ USD), Trung Quốc (1,5 tỷ USD), Tây Ban Nha (1,1-1,2 tỷ USD)... 
     
    IV. CHÍNH TRỊ:

    1. Chính thể Nhà nước, Đảng và đoàn thể :
    - Quốc hội của Chính quyền Nhân dân là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Cu-ba và là cơ quan lập pháp duy nhất. Hội đồng Nhà nước là cơ quan đại diện của Quốc hội giữa 2 nhiệm kỳ. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan hành pháp tối cao.

    - Đảng Cộng sản Cu-ba (PCC) là đảng cầm quyền; được hợp nhất năm 1961 từ Phong trào 26/7, Đảng Xã hội nhân dân và Phong trào 13/3 thành Tổ chức Cách mạng hợp nhất (ORI), sau đổi tên thành Đảng thống nhất Cách mạng XHCN (PURS). Từ 3/10/1965, đổi tên thành ĐCS Cu-ba.  

    - Đoàn Thanh niên Cộng sản (UJC) có hơn nửa triệu đoàn viên, được coi là tổ chức chính trị, cánh tay đắc lực của Đảng.

    - Các tổ chức quần chúng gồm: Các Uỷ ban Bảo vệ Cách mạng-CDR; Trung tâm những Người lao động Cu-ba - CTC; Hội Liên hiệp Phụ nữ Cu-ba - FMC; Hội Cựu chiến binh Cách mạng-ACR; Hội tiểu nông -ANAP; Liên đoàn Sinh viên Đại học -FEU, Liên đoàn Học sinh Trung học - FEEM và Đội Thiếu niên Hô-xê Mac-ti.
     
    2. Chính sách đối ngoại:
    - Sau Cách mạng thành công, Cu-ba thi hành chính sách đối ngoại năng động, kiên quyết chống chủ nghĩa đế quốc, tích cực ủng hộ phong trào cách mạng, giải phóng dân tộc, đấu tranh mạnh mẽ cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH. 

    - Từ đầu thập kỷ 90, Cu-ba đã từng bước điều chỉnh chính sách đối ngoại phù hợp với tình hình mới; đề cao cảnh giác sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; sẵn sàng bình thường hoá quan hệ với Mỹ trên cơ sở các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và quyền tự quyết; đẩy mạnh quan hệ với các nước Mỹ Latinh - Ca-ri-bê, nhất là với Vê-nê-xu-ê-la và các Chính phủ theo khuynh hướng thiên tả, dân tộc; tăng cường quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Ban Nha…; chủ động, tích cực hoạt động tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương nhằm tập hợp lực lượng và phá thế bao vây - cấm vận. Hiện Cu-ba là Chủ tịch đương nhiệm Phong trào không liên kết (2006-2009).

    V.  QUAN HỆ VIỆT NAM-CU-BA :

    - Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao (2/12/1960), quan hệ Việt Nam - Cu-ba được duy trì, phát triển bất chấp mọi biến động xảy ra trên thế giới, thể hiện tình cảm, lập trường cách mạng kiên định, thuỷ chung của Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước đối với sự nghiệp Cách mạng ở mỗi nước. Cu-ba là nước đi đầu trong phong trào nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập, tự do, xây dựng đất nước của Việt Nam; quan tâm thúc đẩy quan hệ mọi mặt với Việt Nam trên các lĩnh vực có thế mạnh như xây dựng, giao thông, công nghệ sinh học, giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục - thể thao, nông nghiệp...

    - Về trao đổi đoàn, nổi bật là các chuyến thăm Cu-ba của Thủ tướng Võ Văn Kiệt (6/93), Chủ tịch nước Lê Đức Anh (9/95), Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (7/1999), Chủ tịch nước Trần Đức Lương (4/2000 và 11/2004), Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng (12/2001), Thủ tướng Phan Văn Khải (10/2002), Chủ tịch QH Nguyễn Văn An (8/2003 và 3/2006), Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (3/2004 và 6/2007), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết gặp Lãnh đạo cấp cao Cu-ba dịp dự Hội nghị Cấp cao Không Liên Kết 14 tại La Habana (9/2006)...; và các chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Phi-đen (12/1995 và 2/2003), Bộ trưởng Ngoại giao Rô-bai-na (3/1999), Phó Chủ tịch HĐNN Cac-lốt La-hê (12/1999), Bộ trưởng Ngoại giao Phê-lip-pê Rô-kê (2/2001 và 4/2007), Phó Chủ tịch Ra-un Ca-xtơ-rô (4/2005), Chủ tịch Quốc hội Ri-các-đô A-la-rờ-côn (6/2007) và nhiều đoàn cấp Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng... thăm Việt Nam. Lãnh đạo Việt Nam và Cu-ba có sự nhất trí cao về việc tăng cường hơn nữa các mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị, hợp tác anh em, nâng cao hiệu quả của các mối quan hệ này, phù hợp với thế mạnh và tiềm năng của mỗi nước.

    - Trao đổi kinh tế - thương mại Việt Nam-Cu-ba những năm gần đây phát triển với tốc độ cao (kim ngạch hai chiều năm 2001 đạt 45,6 triệu USD, 2002: 48 triệu USD,  2003: gần 90 triệu USD, 2004: 119 triệu USD, 2005: 247 triệu, 2006: khoảng 300 triệu USD). Việt Nam xuất gạo, than đá, thiết bị điện tử, điện gia dụng như: máy tính, quạt điện, bóng đèn tiết kiệm điện năng, quần áo, giày dép; nhập chủ yếu là dược phẩm, nguyên liệu sản xuất trong ngành dược trị giá xấp xỉ 2 triệu USD/năm; duy trì thường xuyên các phiên họp thường niên Uỷ ban hợp tác liên Chính phủ luân phiên tại hai nước.

    - Về khoa học - kỹ thuật: Hai bên triển khai nhiều chương trình, dự án hợp tác, tăng cường trao đổi các đoàn chuyên gia học tập kinh nghiệm và nâng cao trong các lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi, xây dựng, y tế, công nghệ sinh học, dược phẩm, nuôi trồng thuỷ sản, dầu mỏ, tài chính, truyền hình, thể thao...

     - Về hợp tác văn hoá - giáo dục: Cu-ba đã giúp ta đào tạo gần 2000 cán bộ trình độ đại học và trên đại học trong nhiều ngành nghề khác nhau. Phía ta cũng giúp bạn đào tạo một số sinh viên học tiếng Việt và một số chuyên ngành khác. Từ năm 2007, phía Việt Nam ành cho Cu-ba 10 suất học bổng mỗi năm về tiếng Việt, văn hóa Việt Nam và một số chuyên ngành khác./.
                                         
    Tháng 9/2007